Công nghệ thông tin
<< < 23 24 25 26 27 >
Có một điều cần nói với các bạn, đó là mọi hệ điều hành đều thực hiện việc kết nối mạng theo cùng một cách đơn giản. Mặc dù hệ điều hành này có thể hiệu quả hơn hệ điều hành kia, nhưng kết quả cuối cùng cơ bản là giống nhau. Windows, Macintosh, Linux và UNIX tất cả đều có thể truyền thông trên cùng một mạng Internet bằng các giao thức giống nhau.
Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho bạn khái niệm về cách sử dụng các nhóm để quản lý truy cập mạng, tiếp đó là việc cho phép các điều khoản trực tiếp đối với người dùng. Chúng tôi cũng đã giải thích Windows Server 2003 hỗ trợ một số kiểu nhóm khác và mỗi một kiểu nhóm đó lại có những ưu và nhược điểm riêng.
Trong bài phần trước chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn cách tạo nhóm abảo mật trong Windows Server 2003. Khi giới thiệu những thứ đó, chắc hẳn bạn cũng đã thấy được rằng Windows sẽ cho phép tạo một số kiểu nhóm khác nhau như được thể hiện trong hình A. Quả thật vậy, mỗi một kiểu nhóm này có một mục đích cụ thể. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về mỗi kiểu nhóm này được sử dụng cho mục đích gì.
Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn cách sử dụng Active Directory Users and Computers console để tạo và quản lý tài khoản người dùng. Trong phần này, chúng tôi muốn tiếp tục giới thiệu cho bạn về các nhóm.
Trong phần trước của loạt bài này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về Active Directory Users và Computers console. Mặc dù trong phần đó đã giới thiệu cách kết nối đến miền cần chọn bằng giao diện này, nhưng còn một vấn đề mà chúng tôi muốn giới thiệu tiếp đó là cách sử dụng giao diện điều khiển này trong các nhiệm vụ quản lý hàng ngày. Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số kỹ thuật cơ bản cho việc bảo quản tài khoản người dùng.
Trong các phần trước của loạt bài này chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn về cách làm việc với AD. Trong phần này chúng tôi sẽ tiếp tục tất cả những gì cần phải thực hiện đối với một mạng.
Trong phần 9 của loạt bài này, chúng tôi đã giải thích cho các bạn về đối tượng tham chiếu giao thức LDAP trong Active Directory bởi tên phân biệt của chúng, mỗi một đối tượng trong thư mục có tên riêng của chính nó. Trong phần 10này, chúng tôi muốn tiếp tục giới thiệu cho các bạn về các tên phân biệt như thế nào.
Trong các phần gần đây của loạt bài bài này, chúng tôi đã giới thiệu nhiều về Active Directory và cách nó làm việc với các bộ điều khiển miền mạng. Bạn cũng đã được giới thiệu qua các phần trước rằng Active Directory về cơ bản là một cơ sở dữ liệu gồm có nhiều đối tượng khác nhau như tài khoản người dùng và tài khoản máy tính. Trong phần này, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho các bạn Active Directory được cấu trúc như thế nào.
Bài viết này chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu đến các bạn các role của FSMO bằng cách giới thiệu về những gì role thực hiện, hậu quả thất bại FSMO và làm thế nào để phát hiện máy chủ nào đang quản lý role FSMO.
Như chúng ta đã được biết đến Active Directory, với một rừng (forest) các cây miền (domain tree), trong đó tên của mỗi miền cũng đồng thời là vị trí của chúng trong forest. Với cấu trúc cây phân tầng tự nhiên của Active Directory, bạn có thể dễ dàng đoán biết được các miền ở gần phía trên là những miền quan trọng nhất