Hỏi đáp

Các câu hỏi trước
1 2 3 4 5 >
Câu hỏi: (phạm thị phương hồng quế, phamhongque1985@gmail.com, 18/03/2019)
lương cơ bản đóng bhxh từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018 là 3307 ngàn. tháng 1/2019 là 3500 ngàn. ngày 3/2 e sinh con(thai 32 tuần).vậy tiền thai sản e được hưởng là bao nhiêu. xin cảm ơn
Trả lời:
Mức hưởng chế độ thai sản được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc để sinh con. Thời gian hưởng là 06 tháng.
Theo như câu hỏi của bạn, từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018, mức lương làm căn cứ đóng BHXH là 3.307 ngàn đồng; tháng 01/2019 là 3.500 ngàn đồng. Mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau:
(3.307 x 05) + (3.500 x 01)/06 x 100% = 3.339 ngàn đồng/tháng.
Ngoài chế độ thai sản nêu trên bạn còn được hưởng trợ cấp một lần bằng 02 tháng lương cơ sở tại thời điểm sinh con. Cụ thể, tại thời điểm tháng 02/2019, mức lương cơ sở là 1.390 ngàn đồng. Số tiền được hưởng là: 1.390 x 02 = 2.780 ngàn đồng.
(Phòng CĐBHXH, 18/03/2019)
Câu hỏi: (Nguyễn Vĩnh Phúc, vinhphuc1953@gmail.com, 09/03/2019)
Hỏi: Đối tượng hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn trước ngày ban hành Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ được qui định như thế nào?. Theo qui định: Đối tượng bổ xung hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn qui định tai Điều 1 của Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: a- Người có đủ 20 năm công tác trở lên (không tính quy đổi) mà đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1995 và điểm c mục 3 của Quyết định số 176/HĐBT ngày 19 tháng 10 năm 1989 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ). Hỏi: Như vậy. Đối tượng hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn trước ngày ban hành Quyết định số 812/TTg ngày 12 tháng12 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ được qui định như thế nào?. Và những người nghỉ việc và hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo Nghị quyết 16, ngày 08/02/1982 của Hội đồng Bộ trưởng có thuộc đối tượng theo Quyết định 812 không?.
Trả lời:
Vấn đề ông hỏi, Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai trả lời như sau:

1. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ): Công nhân, viên chức vì ốm đau (không phải do bệnh nghề nghiệp), vì tai nạn (không phải do tai nạn lao động) mà mất sức lao động từ 61% trở lên, hoặc vì già yếu hết tuổi lao động được nghỉ việc thì hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động như sau:
“Nếu có thời gian công tác đủ 15 năm trở lên (năm công tác tính theo hệ số nói ở Điều 1 Nghị định này) thì được hưởng trợ cấp hàng tháng. Điều 15 Nghị định này quy định: Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, hưởng trợ cấp hàng tháng, còn trong độ tuổi lao động thì 2 năm phải giám định lại sức lao động một lần. Chứng nhận về mất sức lao động là điều kiện bắt buộc để được nhận trợ cấp tiếp. Những người trước đây về nghỉ việc không qua giám định sức lao động, những người mà chính quyền cơ sở phát hiện là khoẻ mạnh, lao động bình thường thì phải tổ chức giám định lại sức lao động.
Điều 16 quy định: Công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động, được xác định sức lao động đã hồi phục, thì thôi hưởng trợ cấp hàng tháng.
Điều 17 quy định: Công nhân, viên chức đã về nghỉ việc vì mất sức lao động từ trước ngày ban hành Nghị định này và đang hưởng trợ cấp hàng tháng thì nay phải giám định lại sức lao động.
2. Theo quy định tại điểm c khoản 3 Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 09/10/1989 của Thủ tướng Chính phủ: Chế độ trợ cấp mất sức lao động hiện hành (quy định tại Nghị định số 236-HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng) được sửa đổi để áp dụng thống nhất cho số cán bộ, công nhân viên chức về nghỉ từ khi có Quyết định này như sau: Công nhân viên chức về nghỉ mất sức lao động được hưởng trợ cấp hàng tháng, thời hạn trợ cấp hàng tháng bằng 1/2 (một nửa) thời gian công tác đã quy đổi (trừ một số đối tượng đặc biệt do Nhà nước quy định).
3. Theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 60/HĐBT ngày 01/3/1990 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ): Từ nay tất cả công nhân, viên chức nghỉ việc vì mất sức lao động theo quy định tại điều 14 Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng được hưởng trợ cấp hàng tháng bằng ½ (một nửa) thời gian công tác quy đổi.
Những đối tượng đặc biệt sau đây, sau khi đã hết hạn trợ cấp theo quy định ở Điều 1, được tiếp tục trợ cấp mất sức lao động hàng tháng: Anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được xếp hạng thương tật; Những người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được xếp hạng thương tật; Những người bị mất sức lao động từ 81% trở lên; Những người khi về nghỉ việc đã hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi); Những người không nơi nương tựa và không có nguồn thu nhập.
4. Theo quy định tại Điều 1 Quyết định số 812/QĐ-TTg ngày 12/12/1995: Bổ sung đối tượng trợ cấp mất sức lao động dài hạn là những người nghỉ việc, đã hoặc đang được hưởng trợ cấp mất sức lao động nếu có thời gian công tác đủ 20 năm trở lên (không tính quy đổi theo hệ số) đang được hưởng trợ cấp mất sức lao động thì sau khi hưởng trợ cấp đến hết 1/2 (một nửa) thời gian công tác quy đổi, được tiếp tục hưởng trợ cấp hàng tháng. Những người thuộc diện này mà đã ngừng hưởng trợ cấp từ sau ngày 1 tháng 3 năm 1990 thì được hưởng lại trợ cấp kể từ ngày ban hành Quyết định này.
Trong khuôn khổ trang Web này, chúng tôi không thể viện dẫn tất cả các quy định về nghỉ mất sức lao động dài hạn đối với công nhân viên chức trước thời điểm Quyết định số 812/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ông có thể liên hệ trực tiếp với cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh nơi cư trú để được tư vấn cụ thể hơn.
(Phòng CĐBHXH, 18/03/2019)
Câu hỏi: (Nguyễn Giang Long, nguyengianglong2207@gmail.com, 05/03/2019)
Tôi nộp quyết định trợ cấp thất nghiệp cuối tháng 01/2019 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được thẻ bảo hiểm và tiền trợ cấp
Trả lời:
Vấn đề bạn hỏi BHXH tỉnh Gia Lai trả lời như sau:
Tại Nghị định 28/2015 NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm và bảo hiểm thất nghiệp quy định như sau:
- Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, trường hợp hồ sơ gửi theo đường bưu điện thì ngày nhận hồ sơ được tính là ngày chuyển đến ghi trên dấu bưu điện.
- Chi trả trợ cấp thất nghiệp : Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên của người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; người hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ được cấp thẻ bảo hiểm y tế không quá 02 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Trường hợp của bạn qua kiểm tra hiện tại tiền trợ cấp và thẻ bảo hiểm y tế của bạn cơ quan BHXH đã chuyển qua dịch vụ bưu điện để thực hiện chi trả, mời bạn đến bưu điện huyện Đăk Pơ để nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và thẻ BHYT (địa chỉ Tổ dân phố 2- Thị trấn Đăk Pơ – Đăk Pơ – Gia Lai, sđt: 094.606.5522)
(Phòng Tiếp nhận và trả kết quả TTHC, 07/03/2019)
Câu hỏi: (Ngọc, nguyenthibichngoc7301@gmail.com, 28/02/2019)
Tôi sinh con từ ngày 09/11/2018 , đã làm giấy tờ gửi công ty để làm hưởng chế độ thai sản mà tới ngày hôm nay 28/02/2019 hơn 3 tháng sinh con rồi ,tôi vẫn chưa nhận tiền hưởng chế độ này.Công ty cứ báo bên bảo hiêm chưa giải quyết xong, Cho tôi hỏi thời gian giải quyết chế đọ thai sản bao nhiêu lâu vậy ạ ! Cảm ơn
Trả lời:
Vấn đề bạn hỏi, BHXH tỉnh Gia Lai trả lời như sau:

Để giải quyết hưởng chế độ thai sản thì người lao động nộp hồ sơ cho đơn vị sử dụng (hồ sơ gồm có: giấy khai sinh hoặc trích lục khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con) đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ thực hiện nộp hồ sơ và nhận kết quả thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính; theo như bạn hỏi thì bạn đã nộp hồ sơ cho đơn vị sử dụng lao động theo quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ của người lao động đơn vị sử dụng lao động lập Danh sách đề nghị giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe (Mẫu số C70a-HD) nộp cho cơ quan BHXH nơi đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH kèm theo hồ sơ của người lao động.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, cơ quan BHXH có trách nhiệm giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động./.
(Phòng Tiếp nhận và trả kết quả TTHC, 01/03/2019)
Câu hỏi: (Vien, minhvien197@gmail.com, 25/02/2019)
Chồng e đi làm 2 năm có đóng bh...sau khi nghỉ 1 năm Chồng e có nộp bhxh cho huyện chuprong...để lãnh bảo hiểm...nhưng vì đi làm xa nên k đi nhận kết quả được...chồng e có làm giáy ủy quyền nhờ mẹ lãnh hộ...nhưng bên bhxh họ k cho lãnh...cho e hỏi lý do vì sao?
Trả lời:
Vấn đề bạn hỏi Bảo hiểm xã hội tỉnh Gia Lai trả lời như sau:

Đối với trường hợp bạn nộp hồ sơ để giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì bạn thực hiện nộp hồ sơ tại Bảo hiểm xã hội huyện nơi cư trú; kết quả thủ tục hành chính thì người lao động phải trực tiếp nhận kết quả giải quyết; trường hợp không đến nhận trực tiếp thì phải có giấy ủy quyền theo mẫu số 13 – HSB (bản chính) hoặc hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật cho người đại diện hợp pháp của bạn nhận kết quả giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội (Quy định tại Quyết định số 1055/QĐ-BHXH ngày 25/7/2016 , Quyết định về việc công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung, thay thế thuộc thẩm quyền giải quyết của Bảo hiểm xã hội Việt Nam). Theo như bạn hỏi thì bạn có giấy ủy quyền nhưng cơ quan BHXH không cho bạn nhận kết quả vấn đề này xảy ra do có thể mẫu ủy quyền của bạn làm không đúng theo quy định (mẫu số 13-HSB) hoặc mẫu theo đúng quy định mà cơ quan BHXH không trả kết quả cho bạn (hiện tại bộ phận một cửa huyện Chư Prông có 02 cán bộ tiếp nhận hồ sơ vì vậy bạn cung cấp thêm họ, tên cán bộ tiếp nhận để cơ quan BHXH chấn chỉnh kịp thời).
Vì vậy, bạn kiểm tra lại mẫu giấy ủy quyền và mời bạn liên hệ Bảo hiểm xã hội huyện Chư Prông để nhận kết quả theo quy định./.
(Phòng Tiếp nhận và trả kết quả TTHC, 27/02/2019)